Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng, là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Nhưng không phải giao dịch dân sự nào cũng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Trên thực tế, nhiều giao dịch dân sự bị vô hiệu do vi phạm các điều cấm của Luật. Sau đây, Minh Thư Law xin cung cấp một số thông tin như sau:
1. Khái niệm giao dịch dân sự
Theo quy định pháp luật, giao dịch dân sự được thể hiện thông qua hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, từ đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói của các chủ thể, bằng văn bản hoặc bằng các hành vi cụ thể.
Ví dụ: Khi thực hiện việc mua 1 chai nước tại 1 cửa hàng, có thể thấy được rằng một giao dịch dân sự đã phát sinh giữa người mua và người bán thông qua hành vi và lời nói của 2 bên.
2. Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
Như vậy, giao dịch dân sự xuất hiện rất nhiều và diễn ra thường xuyên trong cuộc sống. Để đảm bảo cho việc thực hiện giao dịch dân sự được diễn ra thuận lợi, pháp luật quy định rõ ràng về việc giao dịch dân sự cần phải đảm bảo các điều kiện để có hiệu lực pháp luật như sau:
+ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực dân sự phù hợp với giao dịch dân sự.
+ Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
‘+ Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội.
3. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
Bên cạnh việc hiểu rõ điều kiện có hiệu lực, cần phải chú ý các trường hợp giao dịch dân sự sẽ vô hiệu khi không có đủ điều kiện như:
a, Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung đề cập tới những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện, hay vi phạm những chuân mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được công đồng thừa nhận và tôn trọng thì vô hiệu.
Ví dụ: giao dịch dân sự về việc mua bán ma túy vi phạm điều cấm của pháp luật sẽ dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu.
