Luật sư Nguyễn Hào Hiệp và Cộng sự đưa ra một số tư vấn pháp lý liên quan đến vấn đề hưởng thừa kế đối với con ngoài giá thú
Hỏi: Mong các Luật sư giúp đỡ. Hai vợ chồng tôi kết hôn cuối năm 2009. Đầu năm 2010, chúng tôi đã có 1 bé gái 8 tuổi. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chúng tôi đã ly thân gần 3 năm. Vừa rồi chồng tôi nộp đơn lên tòa án nhưng không hề nói với tôi.
Khi tôi thăm con mới được biết chồng tôi đang sống chung với người khác đã lâu (qua lời kể của chị nhà hàng xóm). Và người này đang có bầu với chồng tôi, đã sinh con vào hôm mùng 3 tết vừa rồi. Trước tết tòa án có gọi cho tôi nói qua tết lên tòa giải quyết việc ly hôn. Chồng tôi nhận nuôi con và không yêu cầu chu cấp gi hết. Giờ tôi thắc mắc muốn hỏi nếu tôi không đồng ý ly hôn có được không. Tôi có quyền kiện chồng tôi vì vi phạm luật hôn nhân 1 vợ 1 chồng không. Tôi rất mong các Luật sư có thể giúp tôi giải đáp những thắc mắc này với tôi xin cảm ơn.
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật sư Nguyễn Hào Hiệp và Cộng sự. Sau khi xem xét vấn đề bạn đưa ra, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, Chúng tôi xin giải đáp vấn đề của bạn như sau:
- Cơ sở pháp lý
– Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19/06/2014;
– Nghị định số 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã do Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 24/09/2013;
– Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Luật sư tư vấn
Ly hôn sẽ là căn cứ chấm dứt quan hệ nhân thân của hai vợ chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng con thuộc về cả hai vợ chồng, bên nào không trực tiếp nuôi dưỡng thì sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng để đảm bảo khả năng phát triển của con.
Theo quy định của pháp luật, quan hệ vợ chồng có thể chấm dứt bằng việc thuận tình ly hôn (cả hai bên đều muốn ly hôn) và đơn phương ly hôn (còn được gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên, chỉ một bên muốn ly hôn hoặc một bên yêu cầu ly hôn) và chồng bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn, đó là quyền của chồng bạn, được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2, Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3, Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Như vậy, nếu bạn không đồng ý ly hôn, nhưng chồng bạn muốn ly hôn thì chồng bạn vẫn có thể yêu cầu toàn án giải quyết vụ việc ly hôn vì đó là quyền của chồng bạn khi chồng bạn cảm thấy không còn chung sống được với bạn được nữa.
Theo thông tin mà bạn đã cung cấp, chúng tôi hiểu rằng chồng bạn và cô gái ấy sống chung với nhau như vợ chồng, có con chung và có sự chứng kiến của hàng xóm, và cô ấy khiến gia đình bạn có mâu thuẫn dẫn đến cảnh đứng trên bờ vực của ly hôn.
Trường hợp này chúng tôi xin cung cấp những thông tin sau:
Hiện nay theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối với người thứ 3 chen vào làm phá vỡ gia đình của người khác thì tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Bị xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP có quy định như sau:
“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;…”
Như vậy theo quy định người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Thứ hai: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:
“Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
- a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
- b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
- b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Như vậy, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đó làm làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Do đó, trường hợp này bạn nên làm đơn tố cáo lên cơ quan công an xã, phường thi trấn hoặc cơ quan công an quận, huyện để được hỗ trợ giải quyết.
